EM SẼ ĐẾN CÙNG CƠN MƯA (2003) – ICHIKAWA TAKUJI

e_se_den_cung_con_muaNội dung:

Truyện bắt đầu từ cảnh cha con Takkun và Yuji đã mất đi người vợ, người mẹ mang tên Mio cả mình được một năm. Hai cha con có thể nói là tạm sống được nhưng thiếu đi sức sống và niềm hạnh phúc vốn có của họ. Người đàn ông trẻ 29 tuổi sống cảnh gà trống nuôi con, lại cộng thêm nhiều bệnh tật cơ thể nên gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy, những khó khăn, thiếu thốn về mặt tinh thần đó, chỉ có khán giả tự cảm nhận được, bản thân nhân vật không hề than vãn, chỉ chấp nhận nó như một lẽ thực tế đang diễn ra. Tôi thích cách nghĩ của Takkun về hành tinh Lưu Trữ, nơi mà những người đã mất vẫn đang sinh sống, miễn là có một người trên Trái Đất còn nghĩ tới họ. Cách nghĩ đó mặc dù để kể cho cậu bé 6 tuổi Yuji cảm thấy sự ra đi của mẹ nhẹ nhàng hơn, nhưng dần trở thành cách suy nghĩ của chính Takkun và đâu đó của nhiều đọc giả. Tôi đoán có nhiều đọc giả đọc những đoạn hội thoại về hành tinh Lưu Trữ mà trộm nghĩ về người thân quen của mình cũng đang ở đó, được tự chọn cho mình một độ tuổi, một trí nhớ, một suy nghĩ mới, và người đó chỉ biến mất khi mình không còn nghĩ tới họ nữa.

Cuộc sống của hai cha con có phần cô đơn và chệch hướng vì sự thiếu vắng người phụ nữ quan trọng của họ, cho tới một ngày họ gặp lại Mio trong một đêm mưa, đúng như lời Mio nói với chồng trước khi mất, rằng nàng sẽ về một năm sau đó để thăm hai cha con. Mio lúc này là một con người bằng xương bằng thịt, vẫn như nàng chưa hề ra đi, tuy nàng bị mất trí nhớ. Takkun nhanh chóng hiểu ra việc vợ mình giữ lời hứa quay lại và sẽ ra đi khi mùa mưa kết thúc, nên vội nghĩ cách để con trai cùng giả vờ là Mio vừa ốm cả tuần, rồi bị ngã nên quên nhiều việc. Mio ngoan ngoãn tin theo lý thuyết đó và dù ban đầu có nhiều thắc mắc, nàng nhanh chóng đóng tốt vai trò người mẹ của Yuji. Tuy vậy, về phần làm vợ của Takkun, Mio nhờ chồng kể lại khoảng thời gian hai người quen và yêu nhau. Đây chính là lúc Mio học lại những chuyện trước đây của hai người và cũng là lúc đọc giả hiểu hơn câu chuyện tình của họ. Hai người là bạn ngồi gần nhau trong ba năm cấp ba, nhưng chỉ hẹn hò nhau khi đã lên đại học. Họ tuy ít gặp nhau nhưng trao đổi nhiều thư, càng ngày tình cảm đôi bên càng lớn nhưng chưa lần nào thực sự thổ lộ. Một năm sau đó, Takkun bị chứng bệnh quái lạ, khiến anh phải từ bỏ nhiều ước mơ cuộc sống và có lẽ là cả Mio. Lòng còn nhiều bâng khuâng nhớ mong nhưng đành lạnh lùng chia xa. Thế nhưng một thời gian sau, Mio chủ động liên lạc, hai người chia sẻ thẳng thắn với nhau vấn đề của Takkun. Mio không hề muốn bỏ cuộc, mà luôn muốn ở bên người mình yêu, bất chấp sức khỏe anh. Một năm sau đó họ kết hôn và một năm sau đó nữa họ có Yuji. Đến năm Yuji năm tuổi thì Mio qua đời.

Kể cho Mio hiện tại nghe hết quá khứ rồi, Takkun cũng phát hiện ra nàng biết mình đã chết và sẽ rời đi khi mùa mưa kết thúc. Biết khoảng thời gian còn lại không bao lâu, hai vợ chồng dành nhiều thời gian bên nhau và bên Yuji. Mio dạy Yuji cách chăm sóc ba và chăm sóc nhà cửa, thay cho mẹ. Mio sắp đặt mọi chuyện trước khi ra đi. Mio cảm thấy yêu chồng mặc dù không còn trí nhớ trứơc đây nhưng cô cảm phục con người và tính cách của anh. Dù tình cảm thật thắm thiết và bao nhiêu ước muốn để Mio ở lại, nàng vẫn biến mất vào một ngày cuối mùa mưa.

Lần ra đi này của Mio đã được dự đoán trước, nên Takkun và Yuji cảm thấy nhẹ nhàng hơn dù vẫn cô đơn lắm. Hai cha con đã tự biết chăm sóc bản thân nhiều hơn, và yêu thương cuộc sống nhiều hơn.

Một ngày nọ, nhờ bức thư Mio để lại trước khi nàng qua đời, Takkun hiểu được toàn bộ lý do về việc năm xưa Mio biết anh bị bệnh và chủ động liên lạc với anh, và cả lý do cô xuất hiện lại một năm sau ngày mất và chẳng hề có ký ức nào. Sự thật là năm cô 21 tuổi, cô bị tai nạn giao thông rồi bị cuốn đi theo thời gian tới 8 năm sau đó, khi cô đã mất. Cô ở bên Takkun 29 tuổi trong 6 tuần, hiểu anh, yêu anh rồi lại biến mất và quay về hiện tại 21 tuổi. Vì biết trước tương lai, vì cảm phục và yêu Takkun, yêu Yuji mà Mio không hề lo sợ, không hề muốn thay đổi số phận đó. Cô chọn ở bên người cô yêu.

Câu chuyện khép lại cũng là cảnh hai cha con một mình bên nhau, nhưng mang màu sắc êm dịu, thanh thản hơn so với ban đầu, vì cậu bé Yuji đã được gặp lại mẹ và hiểu rằng mẹ không chết vì sinh cậu ra, rằng mẹ chỉ là trở về hành tinh lưu trữ, luôn nhận được thư cậu viết cho mẹ. Còn Takkun thì hiểu được tình yêu của vợ mình dành cho mình chân thật và sâu đậm đến thế nào. Anh dường như hỉểu được và cảm thấy việc vợ mình ra đi nhẹ nhàng hơn khi biết rằng cô ấy đã chọn dành trọn cuộc sống của mình dành cho anh và con.

 

Nhận xét:

Đây có lẽ là lần đầu tôi đọc một tiểu thuyết của Nhật nên lúc đầu không quen lắm với văn phong chầm chậm có phần hơi ma mị của nó. Thế nhưng sau đó tôi nhận ra rằng lối tự thuật đó cũng chính là một phần của mạch truyện, khi mà nhân vật chính còn đang trong quá trình trở về với cuộc sống thường ngày sau nỗi đau mất đi người bạn đời, và lại đang chống chọi với căn bệnh không giống ai. Lúc hiểu được mạch truyện và tính cách nhân vật chính rồi thì tôi bị cuốn hút vào câu chuyện lúc nào không hay. Dù đã chuẩn bị tinh thần là truyện sẽ không có nhiều cao trào hay mâu thuẫn, nhưng thú thật tôi có hơi bị thất vọng và lúng túng khi tới đoạn cô vợ trở về không một chút ký ức và nghe theo câu chuyện mà hai cha con bịa ra. Có lẽ vì tôi hay lý trí và khắt khe quá mà thường sẽ không bao giờ tin vào những lời từ ‘người lạ’ như vậy. Khi đã chấp nhận nhân vật rồi thì mọi chuỵên đều ổn. Theo suốt câu chuyện hiện thực, quá khứ lẫn lộn đan xen, tôi mới nhận ra ý đồ của tác giả là gì. Tác giả không hẳn là để người chồng kể lại câu chuyện tình của mình cho con trai nghe, hay theo kí ức của ngưởi chồng lúc bắt đầu cuộc sống mới, mà là kể cái hậu của mối tình ngay lúc đầu, rồi mới kể chi tiết của chuyện tình cho người vợ mất trí nhớ nghe. Ngẫm lại sau một ngày đọc hết truyện rồi tôi mới thấy thấm mối tình đẹp của hai nhân vật. Lúc đầu đọc tôi không thấy cảm cho lắm, có lẽ vì tôi đọc nó lúc tôi 25 tuổi và không tin vào khái niệm gọi là yêu nhau chỉ sau một lần hẹn đi chơi, và không hề thổ lộ sau đó. Tôi cũng hết là cô bé có thể ngồi im không hỏi gì khi thấy người mình yêu thay đổi. Có lẽ thời gian và cuộc sống đã khiến tôi quên đi mối tình đầu là thế nào, có những mơ ước ra sao. Nghĩ lại nếu tôi là cô bé đó, chắc tôi cũng sẽ hành động tương tự như vậy. Chỉ cần người mình yêu yêu mình, thế là đủ. Chuyện sức khỏe có khó khăn, tương lai không dài cũng không sao. Tình yêu của những người thương nhau thật lòng chỉ cần có thế. Suốt cả câu chuyện, với vợ chồng Mio, với bé Yuji hay đối với ông thầy Nombre trong truyện dành cả đời chăm sóc em gái, cuộc sống và hạnh phúc thiệt mong manh, thiệt ngắn ngủi. Nhiều lúc ta xuyến xang theo các nhân vật, rồi nghĩ tới cuộc đời bản thân ta, thấy mình còn nhiều hạnh phúc để mà bám víu và bảo vệ.

Ngoài câu chuyện tình của hai nhân vật chính, tôi rất thích bé Yuji, cậu bé 6 tuổi hồn nhiên. Mới 5 tuổi đã mất mẹ và sống cuộc sống với nhiều dấu hỏi và nghi hoặc, em thật giỏi khi biết nghe lời và phụ giúp ba. 6 tuổi em biết khóc khi xem phim xong không thấy ba đón, không phải vì sợ người lạ mà là sợ ba em có chuyện. 6 tuổi em sống trong thế giới trẻ thơ thích đi lượm bu-lông, đinh ốc ở nhà máy cũ rồi về chôn dưới đất, em chơi với chú chó Pooh khi người lớn trò chuyện và nhất định bảo vệ nó lúc nó không còn chủ. Em ngây ngô đếm ô tô như lời ba nói, hát ba nghe khi ba mệt, lặp lại lời ba nói “làn gió mới, làn gió mới”. 6 tuổi mà em đã mang trong lòng nỗi đau khổ và ghét bản thân mình khi em nghĩ mẹ chết vì sinh em. Cái suy nghĩ đó thiệt ra day dứt và đau khổ cả đời người chứ, chẳng riêng gì một đứa con nít. Cảm giác ấy thiệt sự có một sức mạnh dày vò rất khủng khiếp. Thật may vì mẹ em đã có thể giải thích cho em hiểu và em lại có thể tin mẹ em đang ở xứ Lưu Trữ đọc thư của em. Cái kết nhẹ nhàng nhưng thấm đẫm tình người.

Đọc truyện xong cả ngày rồi giờ mới thấy thấm và viết được nhiều vậy. Tóm lại là câu chuyện mang nhiều tính nhân văn, trầm mặc và đáng để suy nghĩ. Không hổ danh là một trong những tiểu thuyết thành công nhất của Nhật và được dịch sang cả tiếng Anh và dựng thành phim. Tuy mình vẫn thấy có một số chỗ chưa được hợp lý lắm, nhưng có lẽ vốn vì truyện du hành ngược thời gian, biết trước tương lai là không có thực nên cũng khó mà nói nó có hợp lý lẽ thường hay không. Truyện sẽ khó hiểu với ai quen nhịp sống nhanh và lối suy nghĩ logic.

Điểm 7.5/10

 

Quotes:

Nombre: “Quên là một chuyện đáng buồn.”… “Mất trí nhớ rồi thì không thể sống lại những ngày tháng ấy nữa, như cuộc đời dần trôi tuột khỏi kẽ tay ta.”

“Trên đời này, liệu có mấy người may mắn gặp gỡ nhau như vậy nhỉ? Gặp nhau là sẽ bị hút về phía nhau. Dù có gặp nhau bao nhiêu lần đi nữa.”

 

Advertisements

Mật mã Da Vinci (2003)

DaVinciCode

Thể loại: Tình báo, trinh thám, lịch sử, viễn tưởng

Nội dung:

Giáo sư ngành biểu tượng tôn giáo trường đại học Harvard Robert Langdon bị đánh thức giữa đêm khuya tại một phòng khách sạn ở Paris để giúp đỡ cảnh sát Pháp điều tra về cái chết của người quản lý nổi tiếng Jacques Sauniere của bảo tàng Louvre. Lý do ông được mời đi là vì ông Sauniere trước khi chết đã cố tình để lại những lời nhắn và hình tượng vốn thuộc về tôn giáo, trong đó có hình Người Vitruvius của Leonardo Da Vinci. Thực chất cảnh sát Pháp nghi ngờ Langdon là thủ phạm sát nhân vì trong thông điệp của người chết có viết tên ông. Langdon thoát khỏi chiếc bẫy của cảnh sát là nhờ sự cảnh báo của nhân viên giải mã Sophie Neveu, cháu gái của Sauniere.

Nhờ những trò chơi, câu đố và những bí ẩn mà ông của Sophie đã dành cho cô trong thời thơ ấu và kiến thức biểu tượng tôn giáo học của Langdon mà họ đã tìm được những thông điệp tiếp theo của Sauniere ở những bức tranh nổi tiếng của Da Vinci: bức Mona Lisa và Virgins of the Rock. Chiếc chìa khóa mà họ tìm được từ những lời trăn trối cùa Sauniere lại dẫn họ tới một tài khoản ngân hàng đầy bảo mật. Ngạc nhiên thay, những trăn trối mang tính kì bí của Sauniere càng lúc càng dẫn tới việc khám phá sự tồn tại của Hội kín Sion và bí mật tâm linh của chiếc Chén Thánh trong Thiên Chúa Giáo. Vượt qua sự truy đuổi gắt gao của cảnh sát Pháp và cả Interpol, Langdon và Sophie tìm đến điền trang của Leigh Teabing, một nhà sử học người Anh có sự ám ảnh và đam mê cực cao về những đề tài này, để có sự giúp đỡ trong việc giải mã. Teabing cùng với Langdon giải thích cho Sophie thông qua bức tranh Bữa tiệc ly của Da Vinci cùng nhiều tài liệu cổ khác, rằng Đức Jesus thật ra là một người phàm, không phải thần thánh. Ông có kết hôn với một phụ nữ tên Mary Magdalene và bà này đã mang trong người giọt máu của Jesus khi ông bị đóng đinh. Chính bà Mary Magdalene là Chén Thánh hứng lấy giọt máu của Đức Chúa trong bụng bà và hạ sinh một bé gái. Giáo hội Thiên Chúa Giáo đáng lẽ đã được truyền lại cho người phụ nữ tên Mary này nếu như các nam tông đồ khác không tham lam và sợ hãi sự thiêng liêng của các thánh nữ. Để củng cố quyền lực của mình ở La Mã, ông vua ngoại đạo Constantine đã chọn và sửa chữa ra từ những bản Phúc Âm để thành Kinh Thánh Tân Ước, chính thức coi Jesus là con trai của Chúa và dùng những nghi lễ của những tôn giáo đã có sẵn khác thờ cúng thiên nhiên và nữ thần để hình thành nên những nghi lễ của đạo Thiên Chúa mà hàng triệu người vẫn thực hiện cho tới ngày nay. Để xóa đi dấu tích của những tôn giáo khác cũng như để con người quên đi sự thiêng liêng của tính Nữ và các vị nữ thần, Giáo hội Thiên Chúa giáo đã tạo nên 3 thế kỉ tìm và giết những phụ nữ mà họ ghép vào tội phù thủy. Tính thần thánh và cao đẹp của việc nam nữ thống nhất thành một và sinh thành một hình hài mới bị bóp méo và trở thành sự tham muốn đầy tội lỗi, trong đó phụ nữ đóng vai trò như mối làm sao nhãng, khiêu khích dục vọng, không đứng đắn và phụ nữ không được đánh giá cao trong bất kì nhà thờ nào trong giáo hội. Hội kín Sion được lập ra để bảo vệ mộ của Mary Magdalene và hàng ngàn trang tài liệu phơi bày sự thật của Thiên Chúa Giáo, cũng như bảo vệ hậu duệ của Đức Jesus. Hội kín luôn có 4 người đứng đầu và chỉ có họ mới biết được chính xác vị trí của Chén Thánh. Trong suốt chiều dài lịch sự, hội này có sự tham gia của nhiều người nổi tiếng và tài giỏi bao gồm Leonardo Da Vinci và Issac Newton. Ông của Sophie được cho là người nắm giữ vị trí cao nhất hội thời điểm hiện tại nhưng cả ông và 3 vị kia đều đã bị giết bởi người của hội Opus Dei, một hội của Thiên Chúa Giáo, nhằm xóa đi những điều báng bổ Chúa và đe dọa Giáo hội. Sophie và Langdon là những người duy nhất có thể tìm được vị trí Chén Thánh từ những lời nhắn cuối cùng của Sauniere.

Sophie sau khi hiểu được trọng trách của mình đối với một bí mật 2000 năm, quyết tâm cùng Langdon khám phá ra bí mật cuối cùng mà Jacques Sauniere để lại. Tuy nhiên, người bạn đồng hành của họ, Leigh Teabing mới chính là kẻ đứng sau giật dây hội Opus Dei để tìm được Chén Thánh. Do quá đam mê với việc vạch trần sự thật này, Teabing sẵn sàng mượn tay người khác để giết người, và nhiều việc xấu khác mà không hề nghĩ tới việc bí mật này có thể ảnh hưởng như thế nào tới cuộc sống của hàng trăm triệu con chiên. Đối lập lại với nguyên tắc của Teabing, Langdon và Sophie chỉ muốn tìm và bảo vệ bí mật của hội Sion. Cảnh sát đến kịp thời để bắt Teabing, còn Sophie và Langdon thì tìm được gia đình còn lại của Sophie và phát hiện được cô chính là dòng dõi hậu duệ của Jesus.

Điểm hấp dẫn:

Điểm hấp dẫn của truyện nằm ở những chuyện thật giả xung quanh Giáo hội Thiên Chúa giáo, Chén Thánh, những thông điệp bí ẩn của Leonardo Da Vinci. Những chi tiết mang tính lịch sử này được phơi bày theo suốt câu chuyện chạy trốn cảnh sát và tìm lời giải của hai nhân vật chính. Ông Dan Brown rõ ràng là phải có kiến thức khá uyên thâm về nhiều lĩnh vực như trinh thám, kiến trúc, lịch sử, tôn giáo, biểu tượng học, mật mã, toán học, xã hội… để viết nên một câu chuyện nghẹt thở như Mật mã Da Vinci.

Vẫn là lối viết truyện mở đầu bằng một cái chết, tiếp theo là những suy nghĩ và hành động của nhân vật (tốt) chính, và rồi cắt cảnh liên tục sang hành động của nhân vật khác, quá khứ đan xen hiện tại, cùng thực tại ở nhiều nơi khác nhau, nhưng bức tranh được tạo thành lại rất mạch lạc và rõ ràng. Người đọc có cảm giác bị kích thích đọc tiếp liền ngay để mà có được một bức tranh hoàn thiện, không bị thiếu một mảnh ghép khó chịu nào. Cuốn sách này giống như một cái tát vào bất kì người nào tin vào Chúa và giáo hội. Đây là lý do vì sao nó lại gây tranh cãi nhiều và bán siêu chạy. Riêng tôi, tôi đã phải dừng lại nhiều lần để mà hít thở sâu, và cảm nhận “cái tát còn đang nóng trên má” và sự thật đang đánh vào tim. Tất nhiên cuốn sách này chỉ là truyện do một nhà văn viết và tất nhiên mọi tôn giáo, chế độ chính trị nào cũng có những bí mật, cho nên không thể tin vào hoàn toàn nội dung của nó.

Giống như trong Pháo đài số, trong truyện này, chỉ trong một thời gian ngắn vài tiếng đồng hồ của một đêm mà có quá nhiều sự việc, diễn biến xảy ra đến người đọc tự hỏi tại sao nó lại có thể khả thi. Quá nhiều chi tiết, quá nhiều tình huống nghẹt thở trong một thời gian ngắn, đó chính là những gì người đọc có thể cảm nhận được suốt cuốn truyện.

Điểm không hấp dẫn (hay điểm không thể hiểu):

Vì sao ông Sauniere và Sophie lại mang hai họ khác nhau? Thậm chí họ lúc con gái của mẹ cô cũng khác với họ của ông. Và trong suốt truyện không hề giải thích điều này.

Tại sao khi bắt được Teabing, cảnh sát không giữ lại thẩm vấn Langdon và Sophie? Họ cũng đã phá nhiều luật. Nếu có bị thẩm vấn, thì họ phải khai ra về hội Sion, lời trăn trối của Sauniere và những bí mật khác để giải thích cho hành động bỏ trốn của mình?

Tại sao Teabing lại phải giết Remy khi Remy lộ mặt? Tính ra thì nếu Remy bỏ trốn thì mọi người cũng sẽ nghi ngờ Teabing.

Điểm 9.5/10

Pháo Đài Số – Dan Brown (1998)

Thể loại: Tiểu thuyết thể loại tình báo, trinh thám ly kì.

Nội dung: (xin đừng đọc nếu bạn chưa đọc cuốn truyện li kì này)

Trong truyện, NSA là một tổ chức bí mật của Mỹ nắm giữ rất nhiều tài liệu mật từ chính trị tới an ninh Mỹ và các nước khác nhằm mục đích phục vụ ngành tình báo, quân đội, chính trị và rất nhiều lĩnh vực khác của quốc gia này. NSA có thể đọc mọi email, nghe mọi cuộc điện thoại, mọi tin nhắn của tất cả những cá nhân có kết nối với mạng internet mà không để lại dấu vết gì, từ đó ngăn chặn được nhiều âm mưu khủng bố và kế hoạch chính trị. NSA làm được điều đó là nhờ cổ máy TRANSLTR. Cỗ máy có thể giải mã mọi từ khóa để mở vào mọi hòm thư điện tử, mọi điện thoại, nghĩa là nó có thể truy cập được mọi thông tin dù đã được mã hóa. Tất nhiên chuyện này cũng bị lên án vì xâm phạm riêng tư cá nhân. NSA tung tin kế hoạch tạo nên TRANSLTR đã bị thất bại để mọi người tin rằng thông tin của họ được an toàn và bọn tội phạm thì vẫn dùng cách gửi email để trao đổi một cách ung dung. Kế hoạch của chúng tất nhiên là bị lộ và được giải thích bằng những lý do khác, không phải do NSA hay TRANSLTR.

Tuy nhiên, có một nhân viên trong NSA, anh chàng Ensei Tankado dị tật do di truyền từ người mẹ là nạn nhân của bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima năm 1945, không đồng ý việc NSA che giấu TRANSLTR với công chúng và xâm phạm quyền riêng tư. Vì việc này, anh đã bị đuổi khỏi tổ chức. Sau một thời gian, anh viết thành công một thuật toán không-thể-giải-mã, được gọi là “Pháo đài số”, đánh bại cả TRANSLTR, và đăng tải nó trên mạng một cách công khai. Thuật toán đăng tải đã được mã hóa và chỉ có Tankado và người bạn North Dakota của anh là nắm chìa khóa giải mã. Tankado đe dọa sẽ công khai chiếc chìa khóa cho mọi người trừ phi NSA thừa nhận về TRANSLTR và những việc họ đang làm. Trevor Strathmore, phó giám đốc của NSA, đã tải thuật toán về và cho TRANSLTR giải mã. Nhận thấy TRANSLTR có vấn đề khi giải bài toán, ông cho gọi Susan Fletcher, nữ chuyên viên xinh đẹp và đắc lực nhất của ông vào NSA để tham gia giải quyết. Trong khi đó, vị hôn phu của Susan là David Becker, một giáo sư đại học, được Strathmore cử tới Tây Ban Nha tìm chiếc chìa khóa của Tankado, người giờ đây đã chết một cách bất ngờ do đau tim. Lý do ông cử David đi dù anh ta không phải điệp viên là vì ông muốn giữ bí mật về Pháo đài số và việc Tankado đã chết, tránh đánh động dư luận và người bạn Dakota.

Susan truy ra được North Dakota là Greg Hale, một nhân viên giải mã khác của NSA và tìm cách báo với Strathmore. Tuy nhiên việc này lại đẩy cả hai vào nguy hiểm khi đối mặt với anh này mà không có trợ giúp do họ muốn giữ bí mật về Pháo đài số. Strathmore thật ra muốn có chiếc chìa khóa giải mã trước tất cả mọi người để có thể viết lại Pháo đài số theo cách mà TRANSLTR có thể giải được và thay thế thuật toán đã được đăng tải. Bằng cách này, mọi người sẽ nghĩ Pháo đài số bảo mật được thông tin của họ trước NSA, nhưng thực tế thì mọi việc sẽ nằm trong tay NSA. Strathmore muốn cuộc đời phụng sự đất nước của ông có một cái kết hoàn hảo như vậy với sự giúp sức của Susan và cô đồng ý tiếp tục cuộc chiến với Greg Hale và cố gắng tìm chìa khóa giải mã từ máy tính anh ta, bất chấp nguy hiểm. David cũng bị đặt trong sự truy sát trong hành trình đi tìm chiếc nhẫn có ghi chìa khóa giải mã của Tankado. Có người muốn lấy chiếc nhẫn và giết hết những người có liên quan.

Tìm hiểu sâu vào Pháo đài số, Susan phát hiện ra North Dakota chính là do Tankado bịa ra để NSA mắc bẫy và tự thả một con virus được mã hóa được mạo danh là Pháo đài số vào máy chủ TRANSLTR với mục đích phá hủy ngân hàng dữ liệu. Sự thật này quật ngã kế hoạch của Strathmore, biến ông thành kẻ tội đồ của NSA do tham lam và ích kỉ. Sự việc dần được hé lộ thêm rằng chính Strathmore, vị thủ lĩnh mà Susan ngưỡng mộ, lại là người lên kế hoạch ám sát Ensei Tankado để lấy được chìa khóa giải mã và cố tình gửi David đi Tây Ban Nha để có thể loại anh một cách công tâm và đến với mối tình bấy lâu của ông – chính là Susan.

TRANSLTR phát nổ vì làm việc quá tải, giết chết Strathmore trong màn lửa. Susan thoát chết, nhưng cô và các đồng nghiệp ở NSA phải tìm ra bằng dc chìa khóa giải mã để chặn lại con virus trước khi chúng phá màn bảo vệ của ngân hàng dữ liệu và cho phép tất cả mọi người truy cập thông tin tuyệt mật của Mỹ. David ở Tây Ban Nha cũng may mắn thoát được tay sát thủ, và giúp đỡ họ qua màn ảnh. Sau nhiều thử thách, họ bảo vệ được dữ liệu khỏi cuộc tấn công của virus và các tin tặc, còn David và Susan tìm được hạnh phúc của mình.

Nhận xét:
Cốt truyện li kì, hấp dẫn từ đầu, mặc dù cũng phải mất một lúc người dốt vi tính như mình có thể hiểu được phần giải thích kĩ thuật. Sự hấp dẫn ngoài việc kể về mối tình của Susan-David, khả năng phân ly tử biệt của họ, còn có sự “thâm nhập” khám phá quá trình điều tra, cách thức thu thập thông tin của một tổ chức bí mật của Hoa Kì, cách mà họ tuyển được những cá nhân siêu đẳng nhất vào làm việc, tạo ra một cỗ máy thông minh và hoàn hảo nhất cho giải mã thông tin và cách mà cỗ máy “bất khả chiến bại” này hoạt động và bị thách thức từ một cá nhân bị dị tật. Sự kịch tính của quá trình này được đan xen và bổ sung với màn truy đuổi của tên sát nhân sử dụng công nghệ tân tiến đối với David ở một nơi ở cách xa hàng ngàn dặm. Lôi cuốn và khiến người đọc rối trí và “thèm khát” đọc đến hết truyện để biết được bức tranh phía sau tấm màn chính là việc thêm nhiều nhân vật đáng nghi vào, với những chi tiết đủ minh bạch và cũng đủ khả năng để nghi ngờ từng nhân vật, từng chi tiết mình đã đọc.

Đây là cuốn truyện đầu tiên của tác giả Dan Brown mà mình đọc, cũng là cuốn đầu tiên khiến ông nổi tiếng, trước cả Mật Mã DaVinci. Đọc cho hết cuốn này, đó là điều mình cảm nhận, và trong quá trình đọc thì ít nhiều trong lòng người đọc, cũng có ít nhiều phát triển sự yêu thích, thích thú dành cho ngành giải mã học, để biết được nội dung thực sự của một đoạn văn bản đã được mã hóa. Qua truyện này và phim The Imitation Game, mình biết thêm về cỗ máy mã hóa Enigma nổi tiếng được Đức Quốc Xã sử dụng trong Thế Chiến thứ 2. Thật ra không có bí mật, chỉ là nội dung đó đã được mã hóa để chỉ có người có chìa khóa đọc được.

Điểm trừ của truyện:
Lúc đọc tới khúc NSA cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của đoạn mã Enigma mà Tankado để lại, mọi thứ chuyển từ khoa học máy tính sang hóa học và bị làm rối rắm hóa một cách không cần thiết, khiến mình hơi chán. Khi nói Mã hóa học của Uranium gồm hai đồng vị khác nhau U235 và U238, mình đã thấy sự khác biệt nằm ở con số rồi, vậy mà họ còn muốn tìm trong rất nhiều tài liệu hóa học để tìm một con số!

Một chỗ khó hiểu khác là tại sao Tankado lại cho đi chiếc nhẫn trong lúc hấp hối? Việc này khiến mọi chuyện trở thành 1 cuộc đi tìm 1 chiếc nhẫn vàng vô giá trị và cực kì “tốn kém mạng người” vô ích. Nếu ban đầu ông ta không giơ chiếc nhẫn ra thì đã không ai hiểu lầm chiếc nhẫn chính là chìa khóa giải mã, cũng như không có ai phải chết vì liên quan. Ông ta không đưa chiếc nhẫn ra thì có lục tung mọi đồ đạc tư trang, người ta vẫn không tài nào tìm dc mã giải.

Còn một chỗ nữa: tại sao lại đánh giá cao Susan Fletcher đến như vậy? Đọc truyện có cảm giác như người phụ nữ này là một vị nữ thần siêu thông minh và siêu hấp dẫn người đối diện vậy. Chắc có lẽ làm vậy để giải thích cho hành động điên rồ lúc cuối của Strathmore, người vốn cực kì nguyên tắc, nhạy bén, kiên nhẫn và luôn luôn cống hiến cho đất nước.

Theo quan điểm cá nhân cho truyện này 9/10.

Cung đường vàng nắng – Dương Thụy (2012)

Cung đường vàng nắng

Nội dung:
Câu chuyện bắt đầu khi một cô gái 24 tuổi Nguyễn Phương Vy sang Bỉ thực hiện chuyến thực nghiệm dài 2 tuần. Cô được đón ở sân bay và đưa về khách sạn bởi một anh chàng trẻ tuổi người bản xứ tên Jean. Kế hoạch khám phá Bruxelles của Vy có thêm sự đồng hành của Jean và Quang, một anh chàng Việt kiều Pháp 34 tuổi mà cô gặp trong lúc làm việc ở công ty mẹ. Thoạt đầu, Vy tỏ ra ngạo mạn, nghi ngờ với cả hai chàng trai, nhưng càng về sau, nhất là khi cô quay lại Bỉ du học cao học theo lời khuyên của Jean, tính tình và cách đối xử của cô với hai người bạn mới có phần thay đổi. Với Jean, từ chỗ chê anh là một đại diện của một nước Bỉ khù khờ, ngây ngô, cô phát hiện ra anh là cháu trai của tập đoàn mà cô đang làm việc, cô nhận ra sự quý giá của những lời khuyên và hạnh động anh giành cho cô. Dù lý do anh đối đãi tốt với Vy dù cô chỉ là một nhân viên quèn có phần hơi ích kỉ từ ban đầu: trả thù phụ nữ Việt Nam vì đã khiến ba anh ly dị vợ và mất đi sự nghiệp ở tập đoàn gia đình, anh đã phải lòng cô gái trẻ người Việt Nam và ân cần chăm sóc, dõi theo cô. Tình cảm giữa Vy và Jean phát triển theo mạch câu chuyện. Còn đối với chàng Việt kiều Quang, nhờ sự tử tế, nhẫn nại và khéo hành xử của Quang, cô đã biến đổi từ chỗ cộc cằn, đa nghi, trách móc đến chỗ tin và ngại ngùng chấp nhận tình cảm anh dành cho cô. Chung quy cũng vì anh lớn hơn cô tới mười tuổi và có kinh nghiệm trường tình và trường đời hơn hẳn cô. Cô thấy mình quá non dại với anh, và cũng không muốn chấp nhận anh vì chịu ơn hay vì áp lực của gia đình đôi bên.

Kết cục câu chuyện thì Vy đến với Jean và vượt qua cách trở về địa lý và văn hóa, họ gặp lai nhau ở thành phố Leige nơi cô từng du học.

Điểm cộng của truyện:

Người đọc có thể hình dung ra cuộc sống của một du học sinh như thế nào ở nơi cách Việt Nam cả mười mấy giờ bay: cảnh thiên nhiên đẹp mê hồn nhưng đôi lúc cũng buồn thảm vào những ngày gió rét; tiếp xúc với nhiều nền văn hóa cũng như cuộc sống hằng ngày nơi bản địa; áp lực từ việc chi tiêu, sinh hoạt hằng ngày khi phải sống xa nhà và tự túc du học; áp lực từ việc phải thành công trong học hành và công việc khi mang tiếng đi học nước ngoài; nỗi buồn và thiếu thốn căn bản khi phải xa gia đình; áp lực phải gánh tránh nhiệm gia đình và cả việc phải có đôi có cặp cho giống với người khác như kì vọng của gia đình và cả chính bản thân. Bởi vậy, độc giả trẻ tuổi vẫn thích Dương Thụy viết thêm về đề tài du học để họ biết thêm, để họ chuẩn bị cũng như để họ hoài niệm.

Cuốn truyện cũng đưa người đọc đi du lịch tới các thành phố nổi tiếng của châu Âu bằng cách miêu tả khá chi tiết cảnh đẹp thiên nhiên, con người, màu sắc, âm thanh của những nơi đó. Trí tưởng tượng của người đọc có thể rời bỏ thân xác ở Việt Nam mà đi du lịch qua các trang sách, tưởng như mình đang ở châu Âu, đắm chìm vào phong cảnh đẹp như tranh mà họ vẫn hay thấy trên sách báo, tivi và họ cũng sẽ ganh tị với nhân vật vì cuộc du ngoạn ở miền đất cổ tích ấy, cùng với câu chuyện tình trên đất Âu. Tôi thích cách tác giả cho tôi biết thêm (và nhìn kĩ lại) tên của các thành phố ở châu Âu: Bruxelles (biểu tượng là tượng Manneken Pis (“cậu bé cầm chim đái” chỉ cao 6 tấc), Liège, Bruges (thành phố Venice phương Bắc) (Bỉ); Vienne (Áo); Paris (Pháp); Cũng như các địa danh: phố Marché aux Herbes ở Bruxelles, Grand Palace (quảng trường lớn – trái tim của Bruxelles), đồi Sart-Tilman ở phía xa Liège, đại lộ Champs Elysées, sân bay Charles de Gaulles (Paris); cả món ăn phổ biến ở Bỉ Moules et Frites (search trên google là nhìn thấy một món ăn khá khiêu khích).

Sự khác biệt văn hóa Đông Tây được thể hiện khá rõ ở những đoạn đối thoại của Jean và Vy, cũng như trong phần độc thoại nội tâm của cô. Việc người con VN phải gánh cuộc đời, giấc mơ mà ba mẹ đã hy sinh, gánh vác cả việc lo cho người con thiếu linh hoạt còn lại, cả việc “nghĩa tử là nghĩa tận”, người phụ nữ thường trả ơn cho người đàn ông bằng cách lấy họ… để lại cho người đọc nhiều suy nghĩ, nhiều bất bình hay đồng ý theo kiểu rất riêng.

Điểm trừ của truyện:

Có khá nhiều điểm tôi không thích ở truyện.

Điều đầu tiên và đáng ghét nhất chính là tính cách của nhân vật nữ chính. Mở đầu truyện đã thấy cô nàng có văn hóa thuộc dạng kém. Câu “xin lỗi” và “cảm ơn” luôn được đặt trong từ điển giao tiếp giữa người với người. Vậy nhưng khi nói chuyện với Jean hay Quang, cô nàng không hề nói những từ đó, mà khá ương ngạnh, hống hách. Có lúc tôi thấy xấu hổ khi cô làm cho người Bỉ nghĩ xấu về người VN. Cô này cũng bất bình tới mức nhịn ăn và ngất xỉu chỉ vì một người đàn ông xa lạ (và cô cũng đang cảnh giác cao độ) không chịu trả tiền cho phần ăn của cô. Chuyện sòng phẳng trong ăn uống của Tây thì cô còn lạ gì nếu đã làm việc 2 năm ở một công ty của Tây?

Điều thứ hai là tình cảm của Jean và Quang dành cho Vy diễn biến hơi thiếu logic. Không phải anh chàng Tây nhà kinh doanh trong điều kiện khủng hoảng và phải trả nợ công ty lại có thời gian đưa đón và theo dõi một cô gái Việt bình thường, lại xử sự thiếu văn hóa. Cũng ít có người VN nào lại muốn nói chuyện, thậm chí lại có tình yêu đương và muốn lấy làm vợ một người thiển cận, tự kiêu, chụp mũ, hay buông lời miệt thị mình như anh chàng Quang, chưa kể anh ấy làm chủ một công ty khá có tên tuổi. Nói chung là đọc mấy lúc này thấy bất bình, vì cả hai người đều rất bận, và có danh dự, tự trọng lớn nếu xét về công việc và cái tôi của họ chứ. Anh Việt kiều lại rõ ràng chỉ là kẻ lót đường trong câu chuyện gượng ép thành tình tay ba này.

Tiếp theo, việc đặt tên cho từng chương là không cần thiết, bởi có những chi tiết không đóng vai trò gì trong câu chuyện, cũng chẳng nói lên ý nghĩa gì nhiều, ví dụ như: những nổi khổ rất bản năng của “nhân loại”.

Việc chú thích của truyện cũng có vấn đề chú thích nghĩa những câu tiếng Anh đơn giản như “I miss you” nhưng lại dùng nhiều từ tiếng Anh để thay tiếng Việt như hopeless, gentlemen… Tiếng Pháp cũng được sử dụng nhiều mà thiếu chú giải đôi khi khiến người đọc không biết tiếng Pháp bối rối khi đọc.

Túm lại, truyện này theo ý kiến cá nhân thì 5/10 thôi.